QBU - Quality - Betters - Us

Giới thiệu

Lịch sử của trường

Báo thể thaoTrường Đại học Quảng Bình được thành lập theo Quyết định số 237/QĐ-TTg ngày 24/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường CĐSP Quảng Bình mà tiền thân là Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình được thành lập từ năm 1959. 

Đây là trường đại học duy nhất của tỉnh Quảng Bình, đào tạo đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực. Với hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Trường Đại học Quảng Bình đã trải qua 7 giai đoạn.

SỨ MẠNG

Trường Đại học Quảng Bình là trường đại học công lập, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; thực hiện nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Bình và cả nước.

TẦM NHÌN

Trường Đại học Quảng Bình phát triển theo định hướng ứng dụng. Phấn đấu trở thành trường đại học có uy tín trong cả nước và khu vực; là trung tâm hàng đầu về đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và chuyển giao các ứng dụng khoa học công nghệ của vùng Bắc Trung Bộ.

GIÁ TRỊ CỐT LÕI

Chất lượng, hiệu quả và bền vững.
Báo thể thaoThành tích của sinh viên sau khi tốt nghiệp là thước đo sự thành công của Nhà trường.

Giai đoạn 1959 - 1965

Đây là chặng đường đầu tiên với muôn vàn khó khăn, thử thách. Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc. Cùng với việc khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, hàn gắn viết thương chiến tranh, Đảng và Nhà nước chú trọng đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Ngày 22/7/1959 Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký Nghị định số 379/NĐ thành lập một số trường sư phạm, trong đó có trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình. Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 về khoa học tự nhiên và xã hội phục vụ các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh. Cơ sở đầu tiên của Trường đóng tại Tam Tòa (Đồng Hới). Ban đầu Trường có 3 tổ chuyên môn là tổ Tự nhiên, tổ Xã hội, tổ Bộ môn chung và 5 tổ hành chính là tổ Giáo vụ, tổ Hành chính – Quản trị, tổ Tài vụ, tổ Tổ chức và tổ Nhà ăn.

Ngày 27/10/1959, tại thị xã Đồng Hới, Trường đã tổ chức Lễ khai giảng khóa học đầu tiên. Từ năm 1959 đến 1965, Trường đã đào tạo được 3417 giáo viên, trong đó 1.151 giáo viên cấp 2 ; 2.266 giáo viên cấp 1, phục vụ cho Quảng Bình, Hà Tĩnh và Vĩnh Linh.

Giai đoạn 1965 – 1975

Thời kỳ này Trường trải qua những năm tháng chiến tranh vô cùng ác liệt, gian khổ nhưng cũng rất anh dũng, kiên cường; vừa giảng dạy, vừa phục vụ sản xuất và chiến đấu, đạt được nhiều kết quả rất đáng tự hào.

Do điều kiện chiến tranh, từ 1965 đến 1975, Trường đã phải 8 lần chuyển địa điểm, qua nhiều nơi, từ miền núi xuống đồng bằng, đủ các địa bàn Đông, Tây, Nam, Bắc của Quảng Bình. Tháng 1/1965, Trường chuyển về đóng tại xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, một vùng bán sơn địa ở phía Tây Nam Đồng Hới. Tháng 2/1965, Trường lại sơ tán về Văn Hóa, Tuyên Hóa, một xã miền núi bên bờ sông Gianh, ở Tây Bắc Quảng Bình. Tháng 8/1965 thầy và trò lại phải di chuyển đến Ngọn Rào (Bố Trạch), một thung lũng cách Đường 15 theo đường chim bay chưa đầy 15 km, nơi thường xuyên bị máy bay địch oanh tạc. Một năm sau, tháng 10/1966, Trường chia làm 2: Sư phạm sơ cấp chuyển về thôn Cây Lim thuộc xã Lâm Trạch (Bố Trạch); Sư phạm trung cấp chuyển về xã Quảng Tân (Quảng Trạch). Tháng 6/1967 Trường lại sơ tán đến Cao Mại, một xã rẻo cao ở huyện Tuyên Hóa.

Tháng 11/1968 đế quốc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc. Tỉnh có chủ trương chuyển Trường về đồng bằng để vừa học vừa sản xuất. Tháng 8/1970 Trường chuyển về xã Hồng Thủy, huyện Lệ Thủy. Nhưng kế hoạch sản xuất (trồng cói lác) không khả thi nên UBND tỉnh lại chuyển Trường về Phú Định, một vùng đồi ở miền Tây Bố Trạch. Đầu năm học 1974-1975, Trường chuyển về Zét, ở phía tây Đồng Hới, sát trung tâm hành chính của Tỉnh lúc bây giờ là Cộn, kết thúc cuộc trường chinh 10 năm khói lửa của thầy và trò trường Trung cấp sư phạm Quảng Bình.

Trong 10 năm chiến tranh gian khổ, thầy và trò đã vượt qua muôn vàn khó khăn, hy sinh, mất mát, đào tạo được 2.263 giáo viên và bồi dưỡng hàng trăm giáo viên các bậc học mầm non, cấp 1 và cấp 2, đảm bảo an toàn phòng không, tích cực phục vụ chiến đấu và lao động sản xuất. Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình là 1 trong 9 trường sư phạm trên toàn miền Bắc được công nhận là trường tiên tiến xuất sắc của ngành giáo dục; được Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng 3, huân chương kháng chiến hạng 3; được Bộ Giáo dục và UBND Tỉnh tặng cờ thi đua và nhiều bằng khen, giấy khen.

Báo thể thaoNăm 1970, Tỉnh quyết định nhập 4 trường: Trường Sư phạm trung cấp, Trường Sư phạm sơ cấp, Trường Sư phạm Mẫu giáo, Trường Sư phạm Bồi dưỡng thành Trường Sư phạm Quảng Bình. Cuối năm học 1973-1974, Trường Sư phạm Quảng Bình lại tách làm 3 trường: Trường Sư phạm cấp 1; Trường Sư phạm 10+3 và Trường Sư phạm mẫu giáo.

Giai đoạn 1975-1979

Sau chiến tranh, đất nước bộn bề khó khăn, thiếu thốn, nhưng với truyền thống anh hùng và nhiệt tình cách mạng, Trường Sư phạm 10+3 đã không ngừng phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Giai đoạn này được đánh giá là thời kỳ phát triển sôi động nhất của Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình.

Báo thể thaoNăm 1976 ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế sáp nhập thành tỉnh Bình Trị Thiên, Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình có thêm nhiệm vụ đào tạo giáo viên tăng cường cho vùng mới giải phóng ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Thời kỳ này Trường chuyển về phía Tây Cộn, trên một khu đất rộng rãi với cơ sở vật chất để lại của một số cơ quan cấp tỉnh đã chuyển vào Huế. Từ 1976-1979, Trường đã đào tạo được 2.479 giáo viên cấp 2 hệ 10+3, chi viện cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, kịp thời đáp ứng nhu cầu giáo dục của cả tỉnh. Cũng thời gian này, Trường đã quan tâm chuẩn hóa đội ngũ, động viên một số giáo viên đi học sau đại học khóa đầu tiên tại Hà Nội.

Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển, ngày 21/8/1978, Chính phủ quyết định nâng cấp Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình thành Trường Cao đẳng Sư phạm. Đây là thành quả của sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của thầy và trò, là mốc quan trọng trong lịch sử Nhà trường. Ngày 20/3/1979, Nhà trường vinh dự được Chủ tịch nước quyết định tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3.